Email

info@acman.vn

Hotline

0966 04 34 34

Địa chỉ

Tầng 6, Số Nhà 28, Ngõ 460 Khương Đình, Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội.

Search
Close this search box.
  1. Home
  2. »
  3. Luật quản lý thuế
  4. »
  5. Thông tư 28/2011/TT-BTC thay đổi tạo thuận lợi cho NNT

Thông tư 28/2011/TT-BTC thay đổi tạo thuận lợi cho NNT

Mục Lục
Nếu bạn thích bài viết, vote ngay post

 

Có thể khẳng định, sự ra đời và việc triển khai mạnh mẽ Thông tư số 28/2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2008/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ là quyết tâm của Bộ Tài chính trong đổi mới, cải cách hành chính thuế. Kỳ vọng lớn nhất của văn bản này là mang lại nhiều thuận lợi hơn, đơn giản hơn, tiết kiệm nhiều hơn thời gian, chi phí… cho Người nộp thuế. Mặt khác, Thông tư này cũng đặt ra yêu cầu, sức ép lớn hơn đối với toàn ngành Thuế trong việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế và thực thi chức năng kiểm tra/thanh tra, xử lý các sai phạm pháp luật thuế. Cùng với đó, loại bỏ các hành vi thiếu lành mạnh như: nhũng nhiễu, tiêu cực, vô cảm, gây khó dễ cho Người nộp thuế để trục lợi cá nhân, trên cơ sở đó góp phần xây dựng đội ngũ công chức liêm chính.
Bài viết gửi đến bạn đọc một số nội dung phân tích và bình luận về những điểm đáng lưu ý trong việc cắt giảm các thủ tục và những thay đổi cần thiết nhằm đảm bảo cho người nộp thuế thực hiện tự khai, tự nộp thế được thuận tiện được quy định tại Thông tư số 28/2011:
 
Thứ nhất, Thông tư số 28/2011 bảo đảm tính phù hợp và thống nhất giữa công tác quản lý thuế, với nôi dung tư tưởng, định hướng chính sách thuế trong các văn bản hướng dẫn về nội dung của từng luật thuế. Nội dung quản lý và hồ sơ thủ tục, mẫu biểu mới được xây dựng trên nền tảng của các Luật thuế mới, các luật liên quan mới được Quốc hội ban hành gần đây như Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập DN (2008), Luật thuế tài nguyên (2009), Luật thanh tra,… do đó sẽ tạo thuận lợi cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế, khắc phục được những bất cập trong tuân thủ, thừa hành hiện nay (thủ tục cũ, chỉ tiêu cũ, nội dung chính sách mới). Những hồ sơ, thủ tục, mẫu biểu ban hành kèm theo các Thông tư hướng dẫn thi hành các luật thuế ban hành sau Luật quản lý thuế còn phát huy tác dụng tốt và phù hợp thì được kế thừa, cải tiến, đơn giản hóa nội dung để tập trung quy định trong Thông tư số 28/2011.
Điểm đáng chú ý đối với DN và người nộp thuế là: Các quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế vẫn thực hiện theo Thông tư số 180/2010/TT-BTC ngày 10/11/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trong quản lý thuế. Các loại thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) thì thực hiện theo Thông tư số 194/2010/ TT-BTC ngày 06/12/2010 hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá XNK.
 
Thứ hai, thời gian bắt đầu áp dụng các quy định mới, mẫu biểu mới vừa bảo đảm phù hợp với tính chất yêu cầu của công tác khai từng loại thuế; vừa giúp cho DN có thêm thời gian để tìm hiểu, làm quen với mẫu biểu mới; đồng thời cũng giúp cho ngành Thuế có thêm thời gian để xây dựng, ứng dụng các chương trình phần mềm, kê khai, hỗ trợ trợ người nộp thuế được tốt hơn. Thực tiễn đời sống xã hội của chúng ta hiện nay đang nổi lên tình hình rất phổ biến là: Những sai sót không đáng có, những phàn nàn từ phía người dân và ngay cả cán bộ thuế thường phát sinh từ việc rất đơn giản là mọi người luôn hành động theo nếp nghĩ, thói quen, cảm tính có sẵn trong đầu mà không chú ý đến thời hiệu áp dụng văn bản, thời gian bắt đầu sử dụng mẫu kê khai.
Thông tư số 28/2011 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 14/4/2011 nhưng các mẫu biểu kê khai thuế sẽ được áp dụng vào thời gian muộn hơn do phải tuân thủ quy định về kỳ khai thuế đối với từng loại thuế, cụ thể là:
– Hồ sơ khai thuế theo từng lần bắt đầu áp dụng đối với từng lần phát sinh nghĩa vụ nộp thuế từ ngày 01/07/2011 (Thí dụ, khai thuế đối với hoạt động chuyển nhượng nhà đất của cá nhân, hộ gia đình).
– Hồ sơ khai thuế tháng bắt đầu áp dụng đối với việc khai thuế từ kỳ tính thuế tháng 07 năm 2011 (thí dụ, khai thuế GTGT).
– Hồ sơ khai thuế theo quý bắt đầu áp dụng đối với việc khai thuế từ kỳ tính thuế quý 03 năm 2011 (thí dụ, khai thuế TNDN tạm tính).
– Hồ sơ khai thuế cả năm bắt đầu áp dụng đối với việc khai thuế từ kỳ tính thuế năm 2011.
– Hồ sơ khai quyết toán thuế theo năm bắt đầu áp dụng đối với việc khai quyết toán thuế từ kỳ tính thuế năm 2011 (thí dụ, khai quyết tóan thuế TNDN năm 2011).
– Khai quyết toán thuế đối với trường hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu DN hoặc tổ chức lại DN thì bắt đầu áp dụng kể từ ngày phát sinh các trường hợp đó từ ngày 01/07/2011.
Riêng các quy định về thủ tục nộp thuế, hoàn thuế, bù trừ thuế bắt đầu áp dụng từ ngày 01/07/2011 để bảo đảm cho DN được thụ hưởng những quy định mới có lợi hơn quy định cũ.
 
Thứ ba, tiết giảm chi phí cho DN trong việc thực thi quy định về số lượng bộ hồ sơ thủ tục, theo đó trong giao dịch với cơ quan Thuế, Người nộp thuế chỉ phải nộp một (01) bộ hồ sơ duy nhất, bảo đảm đúng và tiến bộ hơn so với cơ chế một cửa theo cách làm truyền thống. Trước đây, Thông tư số 60/2007 không quy định cụ thể số lượng bộ hồ sơ văn bản phải nộp cho cơ quan Thuế, bởi vậy đã không ít trường hợp Người nộp thuế phải nộp ít nhất 02 bộ (01 cho bộ phận 1 cửa, 01 cho bộ phận quản lý), cũng không ít trường hợp cãi vã đã xảy ra. Tại những nơi nào mà Lãnh đạo cơ quan hiểu DN hoặc quyết tâm cao trong đổi mới thì nơi đó dân phải nộp ít bộ hồ sơ và ngược lại. Đến nay, Thông tư số 28/2011 quy định rõ chỉ phải nộp cơ quan Thuế 01 bộ hồ sơ (cần phải chú ý rằng: Đối với những người lâu nay có thói quen yêu cầu cơ quan thuế đóng dấu xác đã nhận hồ sơ trên văn bản giấy thì đương nhiên họ phải có 01 bộ nữa để mang về lưu gữi sau khi được xác nhận). Với những trường hợp khai thuế qua mạng thì không nhất thiết  phải xác nhận vì ngày, giờ đã được tự động tích hợp vào hệ thống của ngành Thuế.
 
Thứ tư, giúp DN và người nộp thuế tiết kiệm được thời gian, chi phí trong quy định mới về đơn giản hóa các văn bản dịch và nội dung dịch từ văn bản có tiếng nước ngoài. Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa thiết thực nhất đối với cộng đồng DN và Người nộp thuế là người nước ngoài bởi sự tiết kiệm thời gian, chi phí thông qua các thủ tục dịch thuật, xác nhận, công chứng. Trước đây chúng ta quy định tài liệu nước ngoài phải dịch tòan bộ ra tiếng Việt và phải được Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta đặt tại nước ngoài chứng thực theo thẩm quyền. Thực tế đã đặt ra câu hỏi đơn giản: Liệu các cơ quan này có đủ năng lực, nhân lực, nhân sự và thời gian để thực hiện việc xác nhận?. Rất nhiều trường hợp những cơ quan này không chịu xác nhận (bởi họ không có đủ nhân lực) cho nên DN phải tìm đến các văn phòng dịch thuật, văn phòng công chứng.
Thông tư số 28/2011 đã chuyển trả công việc dịch thuật về đúng nơi nó cần phải được làm vì hơn ai hết, trong quan hệ với đối tác bạn hàng nước ngoài, DN mới là người biết rõ họ đã cam kết điều gì, đã thực hiện đến đâu. Thủ tục thật là đơn giản, đã được quy định rõ tại khỏan 4, Điều 5, đó là: Tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt. Người nộp thuế ký tên, đóng dấu trên bản dịch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung bản dịch. Trường hợp tài liệu bằng tiếng nước ngoài có tổng độ dài hơn 20 trang giấy A4 thì người nộp thuế có văn bản giải trình và đề nghị chỉ cần dịch những nội dung, điều khoản có liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế.  Đối với hồ sơ Thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì tuỳ vào tính chất của từng loại hợp đồng và yêu cầu của cơ quan thuế (nếu có), người nộp thuế cần dịch những nội dung trong hợp đồng như: tên hợp đồng, tên các điều khoản trong hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng  hoặc thời gian thực tế chuyên gia của nhà thầu nước ngoài hiện diện tại Việt Nam (nếu có), trách nhiệm, cam kết của mỗi bên; các quy định về bảo mật và quyền sở hữu sản phẩm (nếu có), đối tượng có thẩm quyền ký kết hợp đồng, các nội dung có liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế và các nội dung tương tự (nếu có); đồng thời gửi kèm theo bản chụp hợp đồng có xác nhận của người nộp thuế.
 
Thứ  năm, quy định rõ loại hồ sơ nào cần phải có thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự vừa bảo đảm sự minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó cũng kỳ vọng sẽ khắc phục triệt để tâm lý “hoài nghi” của công chức Thuế đối với những hồ sơ có tài liệu bằng tiếng nước ngoài. Mặt khác, giải tỏa sự quan ngại của Người khai thuế, nhất là người nước ngoài bởi trước đây Thông tư số 60/2007 không quy định cụ thể loại tài liệu hồ sơ, giấy tờ nào phải qua thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự. Sự thay đổi quy định này giúp cho DN tiết kiệm được thời gian, chi phí. Thông tư số 28/2011 quy định rõ: “Việc hợp pháp hoá lãnh sự đối với các giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp chỉ bắt buộc đối với 4 trường hợp cụ thể hướng dẫn tại Điều 14 (khai thuế TNCN); Điều 18 (khai thuế nhà thầu nước ngoài); Điều 37 (xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế); và Điều 47 (hòan thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần).
Ngoài ra, Thông tư số 28/2011 đã bổ sung một quy định về thủ tục hồ sơ đơn giản, thuận tiện để cá nhân Việt Nam có thời gian làm việc hoặc đầu tư ra nước ngoài và những người nước ngoài đến làm việc, sinh sống tại Việt Nam được hưởng đầy đủ quyền lợi miễn thuế, khấu trừ thuế theo các điều khoản cam kết trong các Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần. Theo đó, trường hợp cá nhân có thời gian cư trú tại những nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký Hiệp định với Việt Nam mà nơi đó không có chế độ cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân được sử dụng giấy tờ thay thế là bản sao hộ chiếu. Trường hợp tại thời điểm nộp giấy tờ mà chưa xác định được cá nhân là đối tượng cư trú của nước nào thì được cam kết gửi bản sao hộ chiếu vào thời gian tiếp theo (đến quý I của năm tiếp theo.
 
Thứ sáu, Thông tư số 28/2011 góp phần thúc đẩy hoạt động dịch vụ thuế, đại lý thuế, qua đó vừa có tác động tích cực đến việc tạo thêm việc làm cho xã hội, đồng thời giúp cho hoạt động khai thuế được chuyên nghiệp, chuyên sâu hơn. Đại lý thuế là một nghề mới phát sinh trong kinh tế thị trường ở giai đoạn nền kinh tế xã hội ngày càng được minh bạch hóa, đây là một xu thế phát triển tất yếu của đời sống xã hội. Luật quản lý thuế đã có quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế). Tuy nhiên, với quy định của Thông tư số 60/2007 thì không DN nào muốn thuê dịch vụ làm tỉu tục về thuế cả, bởi vì trong các giấy tờ trong quan hệ giao dịch giữa Người nộp thuế và cơ quan Thuế không có vị trí dành cho họ. Nói cách khác, đại lý thuế không có tư cách gì. Khắc phục tồn tại này, Thông tư số 28/2011 đã bổ sung quy định đại lý thuế được quyền ký, đóng dấu vào vị trí “Đại diện hợp pháp của Người nộp thuế” trên các tờ khai thuế. Đương nhiên, các quy định về trách nhiệm của đại lý thuế, nội dung và phạm vi công việc được ủy quyền phải được ghi trên Hợp đồng dịch vụ (hợp đồng bằng văn bản) và bản chụp Hợp đồng kèm theo văn bản của Người nộp thuế thông báo việc họ ký Hợp đồng dịch vụ này nhất thiết phải được gửi đến cơ quan Thuế.
Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia cao cấp Phó vụ trưởng Vụ CS thuế – Bộ Tài chính

Đăng ký dùng thử miễn phí và nhận tư vấn về phần mềm ACMan

Tác giả

Thực Hiện Bởi : acman.vn

Phan Thế Thịnh

Bình luận

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tìm kiếm

Liên hệ tư vấn

Đăng ký ngay, không bỏ lỡ

Thông tin hữu ích mới nhất mỗi tuần: Bài viết chuyên gia, Thư mời hội thảo, Báo cáo chuyên ngành, eBook…
Công ty ACMANTư vấn
Scroll to Top
Nghỉ lễ 10-3

Đăng ký tư vấn

Vui lòng điền thông tin sau. ACMan sẽ liên hệ với bạn trong 24h làm việc